Xin được bắt đầu một chuỗi các bài viết cơ bản cũng như mọi ngóc ngách của lệnh Xref. Các kiến thức này là sự biên dịch, tổng hợp từ help của AutoCAD và kinh nghiệm sử dụng CAD của bản thân.

PHẦN 1: ĐỊNH NGHĨA VÀ NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN.

Xref:
viết tắt của cụm từ eXternal Reference (là ánh xạ từ bên ngoài). Một Xref là một ánh xạ từ bên ngoài dùng để chỉ sự ánh xạ phần bản vẽ của một file có nguồn gốc từ một file khác.

AutoCAD quan niệm một Xref như một dạng định nghĩa block với một vài sự khác biệt quan trọng. Khi bạn chèn một file con bản vẽ như là một ánh xạ block (dùng lệnh ddinsert, chọn browser), nó được lưu trữ trong file bản vẽ mẹ và không cập nhật những sự thay đổi của file con. Khi bạn đính kèm một file con như là một xref, bạn tạo ra một liên kết ánh xạ bản vẽ con tới bản vẽ hiện hành (bản vẽ mẹ), mọi thay đổi của bản vẽ con đều được hiển thị khi bản vẽ mẹ được mở ra. Xref luôn là đối tượng thuộc model space, nó có thể được đính kèm với bất cứ, tỷ lệ, vị trí và góc quay nào.

Một bản vẽ mẹ có thể ánh xạ một hoặc nhiều bản vẽ Xref con cùng một lúc. Và ngược lại, nhiều bản vẽ mẹ cũng có thể ánh xạ vào một bản vẽ Xref con. Trong một file Xref con có thể xuất hiện file Xref con khác, nghĩa là Xref này lông trong xref kia. Ví dụ: file A ánh xạ file B, file B ánh xạ file C là có thể xảy ra. Cũng giống như một ánh xạ block, một xref xuất hiện trong bản vẽ mẹ như một đối tượng đơn. Dẫu vậy, bạn không thể explode một xref ngoại trừ bạn bind (chuyển một xref thành một block) nó trước khi explode.

Công cụ để đính một Xref vào file:
Để đính kèm một xref sử dụng lệnh XREF để hiện thị bảng quản lý các Xref hoặc sử dụng lệnh XATTACH.
Bạn cũng có thể sử dụng lệnh DesignCenter của AutoCAD để đính kèm 1 file xref cũng như chèn một block vào bản vẽ. Sử dụng DesignCenter cho những file đính kèm đơn giản, có thể preview được xref và các mô tả về nó, và nhanh chóng sử dụng được bằng cách drag chuột.

Tên các đối tượng chứa trong Xref
Khi bạn đính kèm một xref, tất cả các tên đối tượng của nó, như layer, linetype, dim, block, textstyle được thêm vào thông tin của bản vẽ mẹ với tiền tố (tên đặt thêm phía trước) là tên của xref và ký hiệu dấu đứng (|). Ví dụ, khi một xref với tên là TKKT có một layer tên là TUONG, AutoCAD thêm vào thông tin của bản vẽ mẹ một layer tên là TKKT|TUONG.

Hiển thị, màu sắc và kiểu nét (linetype)
Bạn có thể điều khiển sự hiển thị, màu sắc và kiểu nét cũng như các thuộc tính khác của layer và làm cho chúng có sự thay đổi tạm thời. Nếu biến hệ thống VISRETAIN được đặt về 0, tất cả những sự thay đổi chỉ có tác dụng tạm thời với bản vẽ mẹ, chúng sẽ bị hủy bỏ khi bạn đóng bản vẽ mẹ, hoặc khi bạn reload (tải lại Xref - tương đương thuật ngữ refresh) hay detach (tương đương thuật ngữ remove) Xref.

Xref và Trật tự bản vẽ.
Nếu bạn ánh xạ một bản vẽ có một image đính kèm hoặc một đối tượng mà được hiệu chỉnh bằng lệnh DRAWORDER (là lệnh đặt trật tự hiển thị cho các đối tượng của AutoCAD), trật tự bản vẽ trong Xref sẽ không còn được như nguyên gốc ngay cả khi ta regen lại bản vẽ. Nếu bạn in bản vẽ với trật tự hiển thị không đúng, hình trong bản vẽ sẽ có thể bị ẩn bởi một đối tượng khác.

Biên cắt cúp Xref
Bản vẽ được tạo bởi AutoCAD R14 hoặc mới hơn có thể chứa xref đã được cắt cúp (clip). Nếu bạn muốn xem đường biên của nó trong AutoCAD, hãy đặt biến XCLIPFRAME về On.

View more latest threads same category: