PDA

View Full Version : Tiểu luận lưu thông tiền tệ và lạm phát.



thanhtuan
12-15-2011, 08:43 PM
PHẦN I:MỞ ĐẦU
Quy luật lưu thông tiền tệ và thực trạng lạm phát được viết ra ở đây nhằm giới thiệu tầm quan trọng của bộ môn kinh tế chính trị .
Lịch sử đã cho thấy quá trình trao đổi giữa hàng hoá và tiền tệ là một quá trình diễn ra tất yếu của xã hội loài người. Nó đóng vai trò quan trọng giúp đồng tiền sinh lời và là phương tiện để trao đổi hàng hoá thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nghĩa là tiền tệ và hàng hoá không thể tách rời nhau, nó tồn tại và biến động theo một qui luật khách quan của tình hình giá cả của đất nước hay giá cả của kinh tế thế giới.
Nói cách khác qui luật lưu thông tiền tệ phụ thuộc vào sự phát triển hay những biến động của nền kinh tế thị trường.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay. Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nướcđang trên con đường hướng tới CNXH. Vấn đề này ngày càng được chính phủ quan tâm, từ đó có những chiến lược lâu dài đẩy mạnh phát triển kinh tế, đẩy lùi lạm phát tới mức thấp nhất.
Trên cơ sở đó giúp ta hiểu thêm về nguồn gốc, bản chất, chức năng và thực trạng lạm phát của tiền tệ. Từ đó có những giải pháp thiết thực nhất để giải quyết tình hình lạm phát của đất nước.
Đó là những vấn đề không thể thiếu được từ đó có thể vận dụng vào công việc kinh doanh cũng như trong cuộc sống sau này.
Tiểu luận này được viêt ra giúp ta nâng cao được kĩ năng phân tích, kĩ năng vận dụng lí luận. Nhằm bổ sung nhiều hơn kiến thức lí luận hiện đại việc lưu thông tiền tệ và tình hình lạm phát của Việt Nam.
Mục đích của của việc viết tiểu luận cũng là để nâng cao chất lượng và hỗ trợ cho bàI thi sắp tới đạt kết quả tốt nhất.

thanhtuan
12-15-2011, 08:45 PM
PHẦN II:NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUI LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ
a. Nguồn gốc
Quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã dẫn đến sự xuất hiện những vật ngang giá chung. Vật ngang giá chung là những hàng hoá có thể trao đổi trực tiếp được với nhiều hàng hoá thồng thường khác. Đặc điểm của chúng là:có giá trị sử dụng thiết thực , quý hiếm , dễ bảo quản vận chuyển và mang tính đặc thù địa phương .
Thời gian đầu, vật ngang giá chung thường là những hàng hoá có giá trị sử dụng thiết thực cho từng khu vực hoặc nhiều vùng có điều kiện tự nhiên và phong tục xả hội tương tự nhau. Sau đó vật ngang giá chung được chọn là những hàng hoá có ý nghĩa tượng chưng như:vỏ sò, da thú, vòng đá . . . khi trao đổi hàng hoá đã trở thành nhu cầu thường xuyên của các bộ lạc và dân tộc, thì vật ngang giá chung được gắn vào kim loại .
Kim loại được sử dụng làm vật ngang giá chung đầu tiên là sắt và kẽm. Sau đó là đồng rồi đến bạc. Đầu thế kỉ XIX, vàng bắt đầu đóng vai trò vật ngang giá chung và kim loại này được gọi là “kim loại tiền tệ”.
Khi một khối lượng vàng với một trọng lượng và chất lượng (thành sắc)nhất định được chế tác theo một hình dáng nào đó được gọi là tiền tệ .
Như vậy khi vàng độc chiềm vị trí vật ngang gía chung, thì cái tên”vật ngang giá chung”được thay bằng “tiền tệ”. Nói cách khác, đây chính là hình thái tiền của giá trị hàng hoá. Từ nhửng vật ngang giá chung là những hàng hoá thông thường đến tiền tệ, sản xuất và trao đổi hàng hoá đã trải qua một thời kì lịch sử lâu dài. Trong quá trình này vật ngang giá chung đã tự gạt bỏ lẫn nhau:những hàng hoá - vật ngang giá chung, có giá trị thấp và mang sắc thái sử dụng , được thay thế bằng nhửng vật ngang giá chung có giá trị cao hơn và mang ý nghĩa tượng chưng. Sự hoàn thiện từng bước của vật ngang gía chung đánh dấu bằng sự xuất hiện mà tiền tệ ở đầu thế kỉ XIX, không những phản ánh số lượng và chủng loại hàng hoá đưa ra thị trường ngày càng phong phú , mà còn phản ánh trình độ sản xuất hàng hoá đã tiến bộ vượt bậc so vói thời gian trước đây.
Vàng độc chiếm vai trò vật ngang giá chung, nhìn bên ngoài như một quá trình hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên . Nhưng trái lại, tiền tệ là sản phẩm và đánh giá công bằng về mặt khoa học thì tiền tệ lả một trong ba phát minh quan trọng nhất của xã hội loại người từ lịch sử cổ đại cho đến ngày nay.
Khi vàng đóng vai trò vật ngang giá chung thế giới hàng hoá được chia thành hai cực rõ rệt:một phía là những hàng hoá thông thường, trực tiếp biểu hiện giá trị sử dụng và mỗi hàng hoá chỉ có thể thoả mãn được một và một vài nhu cầu nào đó của con người. Còn phía bên kia – cực đối lập là vàng – tiền tệ, trực tiếp biểu hiện giá trị của mọinhàng hoá khác. Vì tiền có thể trao đổi trực tiếp được với mọi hàng hoá trong bất kì điều kiện nào, cho nên tiền có thể thoả mãn được nhiều nhui cầu của người sở hữu nó. Chính vì thế – tiền tệ được coi là một loại hàng hoá đặc biệt.

thanhtuan
12-15-2011, 08:45 PM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUI LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ

b. Bản chất:
Tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung để đo giá trị của tất cả các hàng hoá khác. Tiền có thể thoả mãn được một số nhu cầu của người sở hữu nó, tương ứng với mọt số lượng giá trị mà người đó tích luỹ được.
Sự xuất hiện của tiên tệ trong nên kinht ế thị trường đã chứng minh rằng: Tiền tệ là một phạm trù kinh tế – lịch sử, là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá. Tiềntệ ra đời, phát triển và tồn tại cùng với sự phát sinh, phát triển và tồn tại của sx và trao đổi hàng hoá. Điều đó có nghĩa là ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá, thì chắc chắn ở đó có tiền tệ. Quá trình này đa chứng minh rằng “…cùng với sư chuyển hoá chung của sản phẩm lao động và hàng hoá, thì hàng hoá cũng chuyển thành tiền tệ”.
Trước khi vàng trở thành tiền tệ kim loai nay vốn đã là hàng hoá. Do đó, cung như các hàng hoá khác, tiền tệ có hai loai thuộc tính:giá trị và giá trị sư dụng. Nhưng là hàng hoá đặc biệt , tiền tệ có giá trị sử dụng đặc biệt. Đó là giá trị sử dụng xã hội. Về vấn đề này, Cac Mac đã viết “giá trị sử dụng của hàng hoá bắt đầu từ lúc nó rút ra khỏi lưu thông, còn giá trị sử dụng của tiền tệ với tư cách là lưu thông lại chính là sự lưu thông của nó”. lịch sử của sản xuất và trao đổi hàng hoáđã chứng minh rằng nền kinh tế hàng hoá là một thực thể đầy biến động. Nó tồn tại và phát triển theo những qui luật khách quan khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao, nền kinh tế thị trường được hình thành theo đúng nghĩa của nó, thì qua trình “phi vật chất” của tiền tệ cũng đồng thời diễn ra một cách tương ứng. Nghĩa là vai trò tiền tệ của vàng ngày càng giảm, đồng thời vị trí kim loại quý của vàng ngày càng được xác lập và tăng lên. Sự phát triển theo hai cưc như trên đối với vàng cũng tương tự như vật ngang giá chung trước nọ nó là một quy luật.
Ngày nay ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, quan niệm về tiền tệ đã có những thay đổi cơ bản. Thực tiễn đa cho thấy:tiền không phải chỉ là vàng, mà nhưng phương tiện có thể trao đổi được với hàng hoá-dịch vụ đều được coi là tiền. Vì vậy tiền được hiểu theo định nghĩa mới như sau:tất cả những phương tiện có thể đóng vai trò chung gian trao đổi, được nhiều người thừa nhận thì được gọi là tiền.
Định nghĩa mới về tiền làm phong phú bản chất của nó, đồng thời mở ra hướng phát triển trong tương lai của các phương tiẹn trao đổi trong nền kinh tế thị trường.

thanhtuan
12-15-2011, 08:46 PM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUI LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ
c. Chức Năng
Thước đo giá trị
Giá trị của tiền được sử dụng làm phương tiện để so sánh với giá trị của hàng hoá hay dich vụ, thông qua quan hệ này, tiền đã thực hiện chức năng thước đo giá trị
Phương tiện lưu thông.
Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được sử dụng làm môi giới trung gian trong trao đổi hàng hoá, nó vận động đồng thời và ngược chiều với sự vận động của hàng hoá. Quá trình thưc hiện chức năng này cớ thể được diễn đạt bằng công thức sau:
H-T-H
Thứ nhất, quá trình trao đổi hàng hoá được tách thành hai giai đoạn riêng biệt là bán và mua. Giai đoạn “H-T” là giai đoạn bán hàng, đây la thời kỳ chuyển hoá giá trị của hàng hoá thành tiền. Đây là công việc khó khăn nhất của nhưng người sản xuất hàng hoá trong đIều kiện kinh tê thị trường.
Giai đoạn “ T-H” – giai đoạn mua hàng, những người sơ hữu tiền có thể thực hiện giai đoạn này một cách dễ dàng. Hai giai đoạn mua, bán hàng hoá được thực hiện hoàn toàn độc lập nhau : kết thúc giai đoạn bán, mới thực hiện mua.
Thứ hai, lưu thông hàng hoá tách rời hành vi mua và bán cả về không gian và thời gian. Người sản xuất hàng hoá có thể bán ở chỗ này và mua ở chỗ khác, bán lúc này và mua lúc khác. Tình trạng này có thể dẫn đến hiện tượng mất cân đối giữa cung và cầu về một số loại hàng hoá nào đó theo không gian và thời gian.
Khi thực hiện phương tiện lưu thông, tiền tệ phải có đầy đủ điều kiện sau đây:
-Phải sử dụng tiền mặt
Tiền mặt phải là tiền đang có giá tri lưu hành, chúng có hình dáng kích thước và tiêu chuẩn giá cả nhất định, được pháp luật nhà nước thừa nhận. khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, bắt buộc phải sử dụng tiền mặt, vì trong quá trình trao đổi này có sự chuyển quyền sở hữu giữa người sở hữu hàng hoá và người sở hữu tiền tệ. Bằng chứngduy nhất chứng minh lao động của người sản xuất hàng hoá bỏ ra là cần thiết cho xã hội, khi hàng hoá của họ được bán hết và “giấy chứng nhận”đó chính là tiền mặt.
-Có thể sử dụng tiền dấu hiệu
Mục đích của người bán hàng không phải là để trở thành kẻ sơ hữu tiền tệ vĩnh viễn, mà là để mua hàng hoá, đạt đến một giá trị sử dụng mới. Do vậy tiền tệ đối vớ họ chỉ là “môi giới thoáng qua”. Chính vì thế mà khi thưc hiện chức năng phương tiện lưu thông có thể sử dụngtiền đủ giá(tiền vàng)hoặc tiền dấu hiệu (giấy bạc ngân hàng)cũng được.
-Lưu thông chỉ chấp nhận một số lương tiền nhất định
Số lượng hàng hoá đưa vào lưu thông trong kì với tổng giá cả đã được xác định. Do đó lưu thông cũng chỉ có thể chấp nhận một khối lượng tiền nhất định để thực hiện các quan hệ trao đổi. Đó là số lương tiền cần thiết. số lượng tiền này tăng hay giảm trong lưu thông phụ thuộc vào hai yếu tố.
Thứ nhất, tổng giá cả hàng hoá đưa ra lưu thông.
Thứ hai, tốc độ bình quân lưu thông của tiền tệ.
Qui luật lưu thông tiền tệ là qui luật kinh tế phổ biến và rất quan trọng của nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để xách định được khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông một cách chính xác?Trên cơ sở đó để cung ứng tiền cho lưu thông phù hợp.
*Phương tiện dự trữ giá trị
Dự trữ giá trị là là tích luỹ một lượng giá trị nào đó bằng nhưngphương tiện chuyển tài giá trị được xã hội thừa nhận, với mục đích để chuyển hoá thành hàng hoặc dịch vụ trong tương lai.
Sau khi bán hàng, nếu ngươI sở hữu tiền tệ không thực hiện nghiệp vụ mua hàng tiếp theo, thì lúc này tiền tạm thời ngừng lưu thông và chúng tồn tại dươI dạng “giá trị lưu trữ”
Thực hiện chưc năng dự trữ giá trị, các phương tiện chuyển tảI giá trị phảI đảm bảo yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, giá trị dự trữ phảI được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực. Nghĩa là có một số lượng cụ thể cân , đong, đo đếm được. chứ không phảI là một lượng tiền “tương tượng”.
Thứ hai, giá trị dự trữ bằng những phương tiện được xã hội thừa nhận. cũng có thể chúng được đảm bảo bằng thông lệ của địa phương hay quốc gia. Thứ ba, giá trị dự trữ mang tính chất thời gian, giá trị dự trữmang tính chất thời gian, chính vì thế mà chủ sở hữuthường chọn những phương tiện chuyển tảI giá trị phù hợp để đáp ứng yêu cầu về thời giầnm mình mong muốn. Nếu dự trữ trong tương lai gần người ta thường sử dụng ngay các loại dấu hiệu giá trị hiện có. Nếu dự trữ giá trị cho tương lai xa hơn, thì người ta thường chọn các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi vững giá hoặc vàng. còn với dự trữ chỉ với mục đích dự trữ, không ấn định thời gian, sử dụng số giá trị này, thì lúc này giá trị dự trữ mang mục đích cất trữ. Từ trước đến nay và trong tương lai xa hơn nữa, kim loại vàng vẫn đáp ứng đưọc mọi yêu cầu cuả mục đích cất trữ.
Tiền cất trữ thì không lưu thông nữa. Nhưng nơI cất trữ tiền thực sự lại là “kho”chứa phương tiện lưu thôngtrong từng thời kì. Trong nêndf kinh tế thị trường hiện nay, vàng vẫn có khả năng thanh toán không hạn chế. Vì vậy, cất trữ vàng không những là nhu cầu, mà còn là sự ham muốn của nhiều người.
*Phương tiện thanh toán
Tiền là phương tiện thanh toá các khoản nợ về hàng hoá -dịch vụ đã trao đổi trước đây. Khi chức năng phương tiện thanh toán được thực hiện xong thì quan hệ trao đổi cũng kết thúc.
Thực hiện chưc năng phương tiện thanh toán, Thực htiền không chỉ được sử dụng để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hoá, mà chúng còn được sử dụngđể thanh toán các khoản nợ bên ngoàI phạm vi troa đổi hàng hoá như:nộp thuế, trả lươngcác khoản đóng góp và chi dịch vụ vv…
Thực hiện chức năng thanh toán có thể thực hiện tiền đủ giá (vàng)hoặc các loại giá trị. Đặc biệt có thể sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt để giảI quýêt các khoản nợ trong nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì doanh số thanh toán không dùng tiền mặt càng chiếm tỉ trọng lớn và doanh số thanh toán bằng tiền mặt sẽ giảm xuống tương ứng.
*Phương tiện trao đổi quốc tế và tiền tệ thế giới.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị và ngoại giao giữa các quốc gia, quan hệ tiền tệ thế giới cũng ngàng càng mở rộng và tăng cường.
Tất cả các hoạt đọng đối ngoại đều liên quan đến các khoản chi phí bằng tiền Nhưng mỗi quốc gia có một giá trị riêng, cho nên những khoản giao dịnh bằng tiền giã hai nước đều phảI tiến hành so sánh giá trị giữa hai đồng tiền. Đó chính là quan hệ tỉ giá. Sau khi đã có tỉ giá giữa các đồng tiền thì mọi giao dịch quốc tế đều có thể diễn ra bình thường và thuận lợi .
Tuy nhiên, trong chức năng phương tiện trao đổi quốc tế, phạm vi lưu thông và thanh toán của nhiều đồng tiền cũng bị giới hạn về không gian và thời gian. Ngay cả những đồng tiền được coi là mạnh nhất như USD trong tương lai cũng không thể vượt khả năng hiện nay mà nó đã có. Hơn nữa nó cũng chỉ là một loại tiền dấu hiệu cho nên không thể là phương tiện dự trữ lâu dàI được.
Trong thực tiễn các quan hệ hàng hoá -tiền tệ gần như mở rộng khắp các nước và khu vực trên hành tinh . Để thực hiện các quan hệ này , chỉ có thê sử dụng “tiền tệ thế giới”. Tiền tệ thế giới là phương tiện thanh toán và chi trả chung giữa các quốc gia.
Khác với các đồng tiền quốc gia, chỉ lưu thông và thanh toán có giới hạn , tiền tệ thế giới không những là phương tiện thanh toán chung, phương tiện chi trả chung, mà còn là phương tiện di chuyển tàI sản và của cải giữ a các quốc gia .
Ngày nay trên trưòng quốc tế vàng ít được lưu thông , mà chủ yếu lưu thông dấu hiệu giá trị . Vàng chỉ được sử dụng để thanh toán cuối cùng khi cán cân thanh toán quốc tế của nước nào đó bị chênh lệch thiếu ;hoặc vì nhu cầu khẩn cấp của quốc gia .

thanhtuan
12-15-2011, 08:47 PM
2. Quy luật lưu thông tiền tệ.
a. Nội dung.
Xác định lượng tiền cần thiết cho lưu thông của mỗi quốc gia trong từng thời kì .
Giữa các quốc gia số lưọng các phương tiện là tiền không giống nhau . ĐIều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy chế taì chính và sự tiến bộ của công nghệ ngân hàng ở mỗi qúôc gia. Còn tổng khối lượng các phương tiện được coi như tiền là bao nhiêu thì khó xác định chính xác , như các tác nhân phát hành , chế độ và phương thức sử dụng phương tiện lưu thông, không gian và thời gian nghiên cứu, phương pháp thống kê v v…từ căn cứ thực tế này định nghĩa về khối lượng tiền trong lưu thông được nêu ra như sau:khối lượng tiền trong lưu thông là chỉ tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hoá và dịch vụ tại một thị trường nhất định và trong một thời gian nhất định .
*Cung ứng tiền cho lưu thông .
-Ngân hàng phát hành là tác nhân cung ứng tiền trực tiếp và quan trọng nhất cho lưu thông . ngân hàng phát hành cung ứng tiền cho lưu t, hông qua các nghiệp vụ chủ yếu sau:
Tái chiết khấu các thưong phiếu , các chứng chỉ, tiền gửi và các chứng từ có giá khác của ngân hàng thương maị và các tổ chức tín dụng .
TáI cầm cố các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi và các chứng từ có giá khác của các ngân hàng thương mại .
-Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.
Những tổ chức này cung ứng tiền cho lưu thông bằng cách:
+Cho khách hàng vay quá nguồn vốn của mình.
Nguồn vốn của ngân hàng thươg mại và các tổ chức tín dụng là một lượng có hạn. Nhưng có nhiều trường hợp cá tổ chức này đã cho khách hàng vay quá nguồn vốn hiện có. Số cho vay vượt mức trên là số tiền không có thực do ngân hàng thương mạivà các tổ chức tín dung tạo ra.
+Cho khách hàng “thấu chi”, thể hiện:Xử lí chứng từ thanh toán cho khách hàng bằng cách ghi “có” trước và ghi “nợ” sau.
Cho khách hàng phát hành séc quá số dư tiền gửi trên tàI khoản của họ.
Những nghiệp vụ này gọi là nghiệp vụ tạo tiền của ngân hàng thương mại. Tuỳ theo quy chế tàI chính cảu nhà nước và nghiệp vụ kiểm tra của ngân hàng trung ương, mà nghiệp vụ này sẽ được thực hiện đến mức độ nào đó, hoặc bị ngăn cấm, nghiệp vụ này vẫn diễn ra và một lượng tiền nào đó vẫn được tạo ra trong lưu thông. Tuy bước đầu chúng chỉ tồn tại dưới dạng bút tệ, nhưng chúng sẽ phát huy chưc năng phương tiện thanh toán như những đồng tiền thực sự. Đồng thời trong một thời gian ngắn chúng có thể chuyển hoá hểt thành những phương tiện chuyển tảI giá trị khác nhau.
-Các tác nhân và tổ chức phi ngân hàng cũng cung cấp cho nền kinh tế quốc dân những phưong tiện truyền tảI giá trị như :thương phiếu , tín phiếu kho bạc , công tráI , tráI khoán công ty vv…
*Nhu cầu tiền trong lưu thông .
Số tiền do các tác nhân và thể nhân giữ lại vì một mục đích nào đó hợp thành tổng cầu tiền . Về mặt kinh tế tiền giữ lại không sinh lời . Thời gian giữ lai càng lâu, lợi tức mất đI càng lớn , nó tráI ngược với đầu tư . Do đó, các tác nhân và thể nhân chỉ giữ lại tiền khi có một khoản lợi ích nào đó bù đắp vào lợi tức bị mất ở trên .
b. Vai trò.
Giúp cho chính phủ căn cứ để phát hiện cần thiết cho lưu thông .
Giúp cho hệ thống ngân hàng nhà nước và kinh doanh đIều hoà lưu thông tiền tệ khống chế kiểm soát lạm phát củng cố sức mua để đồng tiền chuyển đổi .
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng ngày một vững bền . Thúc đẩy tăng trưởng và cảI thiện vật chất .

thanhtuan
12-15-2011, 08:47 PM
3. Lý luận về lạm phát .
a. KháI niệm :
Là hiện tượng kinh tế xuất hiện khi lượng tiền phát hành vượt quá nhu cầu lưu thông mà nhà nước không đIều chỉnh để kéo dàI dẫn dến giá cả tăng đột biến .
b. Phân loại :3 loại
-Lạm phát vừa phảI :là lạm phát khi giá cả hàng hoá tăng chậm ở mức “một con số”. Tổng tỉ lệ lạm phát cả năm dưới 10%.
Lạm phát này thường thấy ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển . Nguyên nhân của loại lạm phát này thường là do :
+ Hiện tượng kinh tế tự nhiên .
+ Nhà nước duy trì lạm phát này với mục đích riêng của mình .
- Lạm phát phi mã :là làm phát xảy ra khi giá cả hàng hoá bắt đầu tăng với tỉ lệ hai hoặc ba con số . nghĩa là mức độ 20%, 100%hoặc 200% năm .
Thông thường thì loại lạm phát phi mã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế .
-Siêu lạm phát là loai lạm phát khi giá cả hàng hoá tăng gấp nhiều lần lạm phát phi mã .
c. Nguyên nhân .
-Tốc độ gia tăng sản xuất chậm hơn tốc độ gia tăng tiền .
-Do chiến tranh thiên tai đột biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ sở hạ tầng .
-Do khủng hoảng hệ thống chính trị làm cho việc đIều hành sản xuất không được quan tâm . Nhưng quan trọng hơn là đồng tiền không được tín nhiệm
d. Hậu quả.
-Sức mua đồng tiền giảm
-Giá cả tăng vọt
-Đời sống người hưởng lương khó khăn.

thanhtuan
12-15-2011, 08:48 PM
II. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. Tình hình lạm phát từ năm 1990 về trước
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết nghĩ quan tâm nghiên cứu đến đề tài cũng là một phương pháp tìm hiểu nó một cách thấu đáo, sâu sắc hơn.
a. Thực trạng:
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lý kinh tế vĩ mô là việc tìm kìm chế lạm phát. Thực ra không phải 10 năm gần đây lạm phát mới xuất hiện ở Việt Nammà từ năm 1980 trở về trước, lạm phát cũng đã tồn tại, chỉ có điều biểu hiện của nó không công khai, các nghị quyết của đảng cộng sản Việt Nam, đại hội V trở về trước không sử dụng khái niệm lạm phát mà chỉ dùng cụm từ "Chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và tiền. . . . "; "Thị trường vật giá không ổn định. . . "
Lạm phát ở thời kỳ này là "Lạm phát ngầm" nhưng chỉ số giá cả ở thị trường tự do thì tăng cao, vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng cũng như thu nhập quốc dân.
Sau một thời kỳ "ủ bệnh" đã bộc phát thành lạm phát công khai với mức lạm phát phi mã cũng tăng giá ba chữ số. Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này.
"Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu. Việc sử dụng vốn vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát trầm trọng".
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ, chống lạm phát. Đối với nước ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt ra trong điều hành của chính phủ, của các cấp các ngành vì sự phát triển và ổn định. Cho tới nay, Việt Nam đã thành công về phương diện này. Lạm phát đã giảm từ hơn 700% một năm vào năm 1986 xuống chỉ còn 35% vào năm 1989. Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, như tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn, người dân không còn tồn trữ hàng hoá, vàng và đô la mà bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền trong nước, xuất khẩu dầu thô ngày càng tăng. Tuy nhiên, những tiến bộ vượt bậc trong năm 1989 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ và tài khoản thận trọng, do đó trong các năm 1992 và 1993, giá cả đã tăng gần 70% năm.
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lý kinh tế vĩ mô là việc tìm kìm chế lạm phát. Thực ra không phải 10 năm gần đây lạm phát mới xuất hiện ở Việt Nammà từ năm 1980 trở về trước, lạm phát cũng đã tồn tại, chỉ có điều biểu hiện của nó không công khai, các nghị quyết của đảng cộng sản Việt Nam, đại hội V trở về trước không sử dụng khái niệm lạm phát mà chỉ dùng cụm từ "Chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và tiền. . . . "; "Thị trường vật giá không ổn định. . . "
Lạm phát ở thời kỳ này là "Lạm phát ngầm" nhưng chỉ số giá cả ở thị trường tự do thì tăng cao, vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng cũng như thu nhập quốc dân.
Sau một thời kỳ "ủ bệnh" đã bộc phát thành lạm phát công khai với mức lạm phát phi mã cũng tăng giá ba chữ số. Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này.
"Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu. Việc sử dụng vốn vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát trầm trọng".
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ, chống lạm phát. Đối với nước ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt ra trong điều hành của chính phủ, của các cấp các ngành vì sự phát triển và ổn định. Cho tới nay, Việt Nam đã thành công về phương diện này. Lạm phát đã giảm từ hơn 700% một năm vào năm 1986 xuống chỉ còn 35% vào năm 1989. Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, như tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn, người dân không còn tồn trữ hàng hoá, vàng và đô la mà bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền trong nước, xuất khẩu dầu thô ngày càng tăng. Tuy nhiên, những tiến bộ vượt bậc trong năm 1989 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ và tài khoản thận trọng, do đó trong các năm 1992 và 1993, giá cả đã tăng gần 70% năm.

thanhtuan
12-15-2011, 08:50 PM
III. GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUI LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ KHẮC PHỤC LẠM PHÁT
1. Ôn định tiền tệ là giảI pháp tình thế và chiến lược của nhà nước nhằm hạn chế và đI đến chấm dứt lạm phát, khôI phục lai giá trị của giấy bạc tạo đIều kiện cho nền kinh tế –xã hội phát triển bình thường .
-Chống lạm phát là một chính sách kinh tế chiến luợc của nhà nước nhưng tuỳ theo đIều kiện của mỗi quốc gia trong từng thời kì , cnhính phủ có thể áp dụng những giảI pháp khác nhau .
2. GiảI pháp khắc phục lạm phát ,
a. Những giảI pháp cấp bách .
-những biện pháp chống lạm phát cấp bách còn gọi là những biện pháp tình thế, những biện pháp này được áp dụng với mục đích giảm tức thời “cơn sốt lạm phát”, để có cơ sở áp dụng những biện pháp ổn định lâu dài.
-Khi xảy ra tình trạng lam phát phi mã hoặc siêu lạm phát , thì những biện pháp tình thế để ổn định lưu thông tiền tệ thường được áp dụng là :
+Ngừng phát hành tiền vào lưu thông: biện pháp này còn gọi là “đóng băng tiền tệ”. Nghĩa là các tác nhân và thể nhân có bao nhiêu tiền thì sử dụng bấy nhiêu. Ngân hàng phát hành tạm ngừng thực hiện các nghiệp vụ “táI chiết khấu”và “táI cầm cố”. Ngay cả số bội chi của ngân sách cũng không được sử dụng vốn phát hành. Mục đích biện pháp này không cho tiền tăng thêm trong lưu thông.
+Tăng lãI suất tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm :
Biện pháp này có tác dụng thu hút tiền mặt của dân cư và doanh nghiệp và ngân hàng, giảm “sức ép” đối với hàng hoá trên thị trường. Để hút mạnh tiền mặtngoàI lưu thông vào qũi tiết kiệm thì mức lãI suát phảI đủ “hấp dẫn”. Đến khi tỉ lệ lạm phát giảm thì ngân hàng cũng giảm dần lãI suất tiết kiệm.
+Cắt giảmkhoản chi phí chưa cấp bách từ ngân sách :như khoản chi phí cho văn hoá giáo dục, y tế…chưa thật cấp thiết. Hoãn được khoản chi phí nàycũng làm “dịu” bớt tình hình lạm phát.
+Bán ngoại tệ và vàng:nhằm mục đích “hút” tiền mặt từ lưu thông vào ngân hàng.
+Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan nhằm mục đích tăng quĩ hàng hoá tiêu dùng, cân đối với số tiền lưu thông.
+Vay và xin viện trợ từ bên ngoài.
+CảI cách tiền tệ:Đay là biện pháp tình thế bắt buộc khi lạm phát ơ mức độ cao, mà các biện pháp trênchưa đưa lại kết quả mong muốn.
b. N hững biện pháp ổn định tiền tệ chiến lược.
Đây là những biện pháp có tác đọng lâu dàI đến sự phát triển kinh tế quốc dân. Tổng thể những biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tếcủa đất nước, xác lập cơ sở ổn định tiền tệ vững chắc. Trong thực tiễn những biện pháp thường được áp dụng là:
-Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá của nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát tư nguyên lý “lưu thông hàng hoá là tiền đề của lưu thông tiền tệ” , nên nếu quỹ hàng hoá được tạo ra với số lượng lớn, phong phú về chủng loại, giá cả ổn định… thì đây sẽ là tiền đề vững chắc nhất để ổn định lưu thông tièn tệ. Thực tiễn xũng cho thấy những nước có nền kinh tế thị trường phát triển là những nước có đồng tiền mạnh và là những ngoại tệ tư do chuyển đổi của thế giới. Phấn đấu để có được kết quả này là việc làm không phảI đơn giản. Nồi dung cốt lõi ở đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “kế hoạch và thị tường” trong thời kì dàI và từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế quốc dân.
-Tạo ngành sản xuất hàng hoá “mũi nhọn” cho xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh tế quan trọng và không thể thiếu được trong đIều kiện mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế quốc tế hiện nay. Hoạt động nay mở rộng và phát triển sẽ có nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất để nhập hàng hoá từ bên ngoàI, bổ sung cho khối lượng hàng trong nước, tạo cơ sở để ổn định tiền tệ. Tuỳ thuộc vào đIều kiện đặc thù về tàI nguyên, lao động, xã hội…mỗi quốc gia phảI tự tạo cho mình một ngành sản xuất mũi nhọn mang tính độc quyền quốc tế, nganh “mũi nhọn”này sẽ đóng vai trò quyết định trong việc tạo nguồn thu bằng ngoại tệ cảu quốc gia.
-Cắt giảm biên chế, kiện toàn bộ máy hành chính.
Đây là biện pháp hành chính với mục đích giảm nhẹ các khoản chi từ ngân sách nhà nước. Giảm nhẹ được những khoản chi này sẽ mang lại hiệu quả thiết thưc đối với sự ổn định lưu thông tiền tệ. ở Việt Nam vấn đề này được quan tâm là giảm bớt số đầu doanh nghiệp thuộc nhà nước quản lí. Đồng thời tinh giảm số nhân viên hành chính, viên chức và công chức. Như vậy số chi tiền lương từ ngân sách nhà nước sẽ giảm đi.
-Soát xét thường xuyên chính sách thu, chi của nhà nước:nhằm mục đích tăng thêm nguồn thu, không bỏ sót khoản thu, giảm số chi, tiết kiệm khoản chi, ổn định ngân sách vững chắc. Nếu ngân sách thường xuyên cân đối, có bội thu thì chắc chắn lưu thông tiền tệ sẽ ổn định.
-Lạm phát để chống lạm phát.
Đây là biện pháp có vẻ như “không hợp lí”, nhưng sẽ tạo ra sự hợp lí để ổn định lưu thông tiền tệ. Đối với những quốc gia còn nhièu tièm năng về lao động, đất đai, tàI nguyên…nhưng chưa được khai thác vì thiếu vốn, nhà nước có thể mạnh dạn phát hành để đầu tư và biết sử dụng nguồn vốn này đúng hướng và đúng lúc, thì nó sẽ là yếu tố liên kết các tiềm năng tên với nhau. Chắc chắn sự “lạm phát” sẽ tạo ra kết quả ổn định tiền tệ như mong muốn.
Xiết chăt tín dụng ngân hàng
-Huy động vốn từ người dân

thanhhuyentb
03-07-2012, 08:12 AM
Các bạn hãy vào ;http://videobook.vn/Thuc-trang-lam-phat-o-Viet-Nam/vi/spct/id8195/ để tìm hiểu về tiểu luận lưu thông tiền tệ ,các bạn hãy vào đăng kí thành viên để được download miễn phí

Thanks !